|
Không chỉ là 1.000 kỹ thuật được chuyển giao
BS Nguyễn Xuân Thực - khoa Răng - hàm - mặt, BV Bạch Mai - đã cùng ăn, cùng làm với BV Đa khoa Yên Bái 3 tháng. Khi xuống địa phương, anh mới biết BV chỉ có vẻn vẹn 3 BS chuyên khoa này, nhưng bệnh nhân thì thường xuyên lên tới 500 - 1.000 người/tháng. Vì không có phương tiện cơ bản nhất là ghế máy khám răng nên họ chỉ đảm nhận được khám, nhổ răng. Những ca nặng, phải nằm viện đều phải chuyển tuyến.
Trong hoàn cảnh ấy, kỹ thuật họ cần được học không gì cao xa: Làm răng giả, tiểu phẫu, đặc biệt là phẫu thuật kết hợp xương vùng hàm mặt, vì ở đây tai nạn giao thông còn nhiều, chấn thương ở bệnh nhân phổ biến nằm ở vùng hàm mặt. Do đó, việc triển khai phẫu thuật kết hợp xương vùng hàm mặt bằng nẹp vít miniplate rất hiệu quả, nhiều bệnh nhân không phải chuyển tuyến như trước.
Trực tiếp chỉ dẫn phẫu thuật phụ khoa 6 ca bệnh, TS Nguyễn Việt Hùng - Trưởng khoa Sản, BV Bạch Mai - cũng đã chuyển giao thành công kỹ thuật cắt tử cung toàn phần đường bụng, kỹ thuật mổ sa sinh dục cho BV Đa khoa khu vực Nghĩa Lộ (Yên Bái). Từ trước tới nay các bệnh nhân như vậy ở Yên Bái đều phải vượt 200 – 300km xuống Hà Nội cả tuần tìm thầy tìm thuốc chữa trị.
Mổ nội soi đã khá phổ biến ở Hà Nội, TPHCM, nhưng vẫn còn là kỹ thuật mơ ước đối với nhiều BS ngoại ở các BV tỉnh. Sau một năm được tai nghe, mắt thấy, tay làm, BV Đa khoa tỉnh Lai Châu đã tự tin với phẫu thuật nội soi túi mật, chỉ với một lỗ nhỏ ở vùng bụng - thay vì trước đó phải mổ phanh với vết rạch 20-30cm. Đến nay, sau 1 năm “cọ xát”, trong 20 kỹ thuật mới được chuyển giao, BV Đa khoa Lai Châu đã thực hiện thuần thục 15 kỹ thuật nội soi ruột thừa, túi mật, chẩn đoán nội soi, cắt trĩ bằng phương pháp Longo…
BS Đỗ Văn Giang - GĐ BV Đa khoa tỉnh Lai Châu - kể lại một sản phụ dân tộc Dao may mắn được cứu sống dù bị vỡ ối, sốc nhiễm trùng nặng: Nhà chị cách đường ôtô tới 200km. Đến kỳ chuyển dạ, gia đình nhờ mụ vườn đỡ đẻ. Thế nhưng, do thai ngôi ngược nên sản phụ không thể sinh trong khi cơn đau đẻ dồn dập. Chị đã bị vỡ tử cung, chảy nhiều máu. Khi chị được đưa tới viện, đúng dịp BV Phụ sản T.Ư về chi viện, nên chị đã được cấp cứu kịp thời, lấy thai chết lưu, cắt tử cung và được cứu sống.
“Với ca bệnh này, chúng tôi cũng có thể mổ, cắt tử cung. Tuy nhiên, cơ hội sống của sản phụ rất khó khăn vì còn phụ thuộc rất nhiều vào phác đồ hậu phẫu, mà việc này chúng tôi còn ít kinh nghiệm”.
“Đà” có thắng được lực cản?
Để lại đằng sau gia đình và công việc hằng ngày bề bộn, những BS T.Ư nằm vùng, cùng ăn cùng ở, hết lòng truyền thụ kiến thức cho các đồng nghiệp. Hiệu quả sau một năm hợp tác của họ bước đầu rất đáng khích lệ: Khả năng tự thực hiện các kỹ thuật sau khi được chuyển giao đạt trên 80%. Tỉ lệ chuyển tuyến ở BV Đa khoa tỉnh giảm 10%, BV Đa khoa khu vực Nghĩa Lộ giảm 15%.
Trên phạm vi toàn quốc, thành quả của 1.900 cán bộ y tế ở 64 BV T.Ư, HN và TPHCM luân phiên xuống địa phương là việc khám và điều trị cho 210.425 lượt bệnh nhân, tập huấn cho 21.526 lượt cán bộ tham gia; phẫu thuật 4.903 ca bệnh, chuyển giao 1.023 kỹ thuật thuộc 26 chuyên ngành, giảm tỉ lệ chuyển tuyến 30%...
Dù là giải pháp tình thế nhằm giảm tải cho các BV tuyến T.Ư, đề án 1816 dự kiến sẽ được Bộ Y tế theo đuổi trong vòng 15 năm tới. Người dân vùng sâu, vùng xa đã và sẽ tiếp tục có điều kiện được tiếp cận với các kỹ thuật khám - chữa bệnh.
Các BS địa phương có thể tự tin hơn khi làm việc với BS 1816, nhưng để vực dậy hệ thống y tế địa phương thiếu thốn và khó khăn nhiều bề, chặng đường phía trước còn quá dài. Thậm chí, nhiều BS T.Ư khi xuống địa phương phải tự hỏi: Lấy ai cầm tay chỉ việc?
Lai Châu, năm 2004 có 86 BS, trong đó 7 người được chốt ở tuyến xã, 15 bác sĩ tuyến huyện. Nhưng đến năm 2007, không còn bác sĩ nào làm việc tại tuyến xã. Lai Châu cũng cần biên chế thêm hơn 100 BS, nhưng 3 năm nay chưa tuyển được một ai. Hoà Bình năm 2004 có 928 bác sĩ, nhưng đến năm 2007, quá nửa đã chuyển tới những nơi có điều kiện tốt hơn. Kon Tum năm 2004 có 404 bác sĩ, nhưng 3 năm sau, số người trụ lại chưa đầy 200 người.
Bác sĩ Lê Việt Trung - khoa Ngoại, Bệnh viện E - đã so sánh: “Bác sĩ tuyến dưới thiệt thòi rất nhiều: Không có điều kiện tiếp xúc với thông tin cũng như những phương pháp, kỹ thuật chữa bệnh mới, không được thường xuyên tiếp xúc với các chuyên gia. BV E có thể mời các bác sĩ BV Việt Đức sang hội chẩn, phẫu thuật ca nặng, nhưng ở Lào Cai thì không thể. Vì thế, tay nghề không những không được nâng cao mà còn bị mai một đi”.
|